Thần Chết, tức Tử Thần xưa nay vẫn là nỗi ám ảnh, lo sợ của đại đa số con người. Đông và Tây thuở giờ mang hai nền văn hóa khác biệt. Ai đó đã từng nói: “Đông là Đông và Tây là Tây”.
Nhưng theo tôi, Đông Tây vẫn có những cái thống nhất với nhau. Một trong những cái thống nhất đó là hình tượng Thần Chết. Tử Thần vẫn được Đông và Tây tượng trưng bằng một bộ xương khô, tay cầm lưỡi liềm.
Quả là một hình tượng làm trẻ già lớn bé khắp nơi, tự cổ chí kim đều sợ hãi. Tôi cũng vậy, tôi cũng ớn cái lão ấy lắm. Cái lưỡi liềm ghê rợn trên tay lão lúc nào cũng như múa lên, chực chờ mà cắt phăng đi sinh mạng người ta! Sợ quá đi chớ! Cái lão Thần Chết đáng sợ ẩn ẩn hiện hiện khắp mọi nơi, mọi lúc. Tuổi già ư? Lão chẳng tha ai cả. Lão từ tốn ra tay, chậm chạp nhưng chắc chắn, từng người một.Tai nạn ư? Lão đột ngột vung lưỡi liềm, số nạn nhân của lão vô chừng, khi nhiều, khi ít.
Bệnh tật ư? Lão hành hạ người ta chán chê rồi mới xuống tay. Chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai ư? Lão đắc ý vung tay lấy mạng người ta hàng loạt…
Người ta ít ai ưa lão, mà cũng ít ai không sợ lão. Lão tung hoành ngang dọc, coi thường mọi sự; kể cả những tiến bộ khoa học của đời nay. Những thứ đó thì cùng lắm chỉ ngăn cản bớt mức tàn khốc của cái lưỡi liềm trên tay lão mà thôi. Lâu ngày chầy tháng rồi thì cuối cùng lão vẫn thắng. Có lẽ lão lấy làm đắc ý với sức mạnh vạn năng của lão. Ai mà chẳng sợ? Lão nghĩ thế! Mà kể lão cũng đáng sợ thật. Nhưng lẽ đời mà, có cái gì tuyệt đối đâu. Đại đa số người ta sợ lão, nhưng không phải là tất cả. Có những người không hề sợ lão.
Ngày 21 tháng Chạp năm Giáp Thân (1248), 50 vạn quân Mông Cổ dưới quyền thống suất của Thái tử Thoát Hoan và hai danh tướng Ô Mã Nhi, Toa Đô ào ạt kéo sang xâm lăng Đại Việt. Hội quân trên đất Hồ Quảng phía Nam Trung Hoa: Lục quân do Thoát Hoan điều động tiến vào Lạng Sơn. Thủy quân từ Quảng Châu theo Toa Đô vượt biển vào Chiêm Thành; tự phía Nam tiến lên Bố Chánh (Quảng Bình) rồi thẳng ra Nghệ An. Quân Đại Việt bị kẹp giữa hai gọng kềm.
Ngày 27 tháng Chạp, giặc chiếm Nội Bàng,Hưng Đạo Vương lui về Bái Tân (thượng lưu sông Lục Nam).
Ngày 6 tháng Giêng, giặc đến Bình Than.
Ngày 12 tháng Giêng, giặc chiếm Kinh Bắc (Bắc Ninh), Hưng Đạo Vương chuyển quân về Thiên Trường. Giặc cậy mạnh đuổi theo rất gấp. Ngài giao Trần Bình Trọng giữ Thiên Trường, còn mình bảo vệ vua Nhân Tông và Thượng Hoàng Thánh Tông lui về Hải Dương.
Ngày 21 tháng Giêng, Trần Bình Trọng chận đánh giặc tại Bãi Thiên Mạc (bên sông Cái, thuộc tỉnh Hưng Yên). Quân ít, thế cô, ông bị giặc vây bắt được. Thoát Hoan biết ông là một tướng tài, muốn trọng dụng nên hết sức vỗ về để dụ hàng. Ông khẳng khái từ chối.
Thoát Hoan hỏi ông:
“Có muốn làm Vương đất Bắc không?”
Trần Bình Trọng quắc mắt đáp:
“Ta chỉ bị bắt thì chỉ có chết mà thôi, đừng nhiều lời vô ích”.
Thoát Hoan biết không thể lung lạc được ông, đành ra lệnh chém..Lưỡi gươm Mông Cổ vung lên, cái lưỡi liềm của Tử Thần hạ xuống. Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng giây phút đó chợt trở thành cái tên thiên thu bất tử. Thần Chết ngỡ ngàng. Lão núp sau lưỡi gươm Thoát Hoan. Lão nghĩ rằng bại tướng kia sẽ kiêng oai lão. Đứng trước cái oai Thần Chết cùng với miếng mồi ngon là tước Vương đất Bắc, lão nghĩ người bại tướng nước Nam kia sẽ khó lòng cưỡng lại. Lão mỉm cười chờ đợi lời quy phục…
“Ninh vi Nam quỷ, bất vi Bắc vương…”
Câu trả lời ngạo nghễ kia đã tạt vào mặt lão một gáo nước lạnh, làm cho lão nhớ ra rằng trên đời này vẫn có những con người không hề sợ oai Thần Chết! Lão cay đắng nhận ra mình mới là người chiến bại.
Tới gần đây, nhân đọc một bài thơ, tôi mới biết thêm rằng, chẳng những con dân Đại Việt có rất nhiều người coi thường Thần Chết; mà hơn thế nữa, có những người còn làm cho Thần Chết sợ họ nữa kia!
Ngày 24-1-1930, tại hội nghị Võng La, Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân ĐảngNguyễn Thái Học tuyên bố: “Chúng ta nhất định phải phát động cuộc Tổng khởi nghĩa. Không thành công thì thành nhân”.
Ngày 10-2-1930, cuộc Võ trang khởi nghĩa do Việt Nam Quốc Dân Đảng lãnh đạo nổ ra. Cách mạng quân tấn công Yên Báy, Hưng Hoá, Lâm Thao, Sơn Tây, Đáp Cầu, Phả Lại, Phủ Đức, Vĩnh Bảo và nhiều nơi trong nội thành Hà Nội. Một số lãnh tụ của Đảng hy sinh hoặc bị bắt.
Ngày 28-3-1930, Hội đồng Đề hình của thực dân Pháp đã mở phiên xử tại Yên Báy với kết quả:
-100 án khổ sai chung thân;
-50 án tử hình.
Đó là chưa kể đến hàng hàng lớp lớp chiến sĩ ái quốc đã bị tù đày và bắn giết ngay sau ngày khởi nghĩa.
5 giờ sáng ngày 17-6-1930, Đảng trưởng Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí lần lượt bước lên máy chém, và cũng là đài vinh quang đưa tên tuổi họ vào lịch sử.
Đó là các liệt sĩ:
1- Bùi Tư Đoàn, 37 tuổi, nông dân,
2- Bùi Văn Chuẩn, 35 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy.
3- Nguyễn An, 31 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
4- Hồ Văn Lạo, 35 tuổi, thợ hồ,
5- Đào Văn Nhít, 32 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
6- Ngô Văn Du, 29 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
7- Nguyễn Đức Thịnh, 30 tuổi, thuộc Binh đoàn yên Báy,
8- Nguyễn Văn Tiềm, 28 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
9- Đỗ Văn Sứ, 27 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
10- Bùi Văn Cửu, 30 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
11- Nguyễn Như Liên, 27 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
12- Phó Đức Chính, 32 tuổi, công chức,
13- Nguyễn Thái Học, 29 tuổi, Đảng trưởng.
Muời ba lần, lưỡi gươm máy chém nặng nề rơi xuống. Mười ba tiếng hô “Việt Nam vạn tuế” dõng dạc vang lên…
Trong buổi sáng sớm của ngày Quốc tang đó, Thần Chết không còn dám núp mình trong cái khí cụ giết người là cái máy chém kia nữa. Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên! Lão Thần Chết lần này không còn cái dáng vẻ đáng sợ như mọi ngày. Thần Chết giờ đây đang kính cẩn đứng khắc từng cái tên anh hùng vào bia Tuẩn quốc!
Tôi có lỗi quá! Không nhớ hết bài thơ, tôi cũng không nhớ được tên tác giả. Tôi chỉ có được một nén hương lòng. Bằng hữu xa gần, ai nhớ, xin làm ơn nhắc dùm tôi!
Cũng vào những ngày này, 37 năm trước; cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do đã kết thúc một cách bất hạnh. Quân đội miền Nam đã chiến đấu anh dũng nhưng lực bất tòng tâm, vả lại sinh mạng miền Nam tự do chỉ là một con cờ trên bàn cờ quốc tế, mà người có quyền quyết định kết quả đó không phải là những người Việt yêu tự do ở miền Nam. Và cũng trong những ngày bi thảm đó, Thần Chết đã phải thêm một lần kính cẩn đón tiếp những con người Việt Nam bất khuất; những con người mà đứng trước giờ lâm tử của Tổ quốc họ đã quay ra coi thường Thần Chết. Trái với lệ thường, những con người kia đã bình tĩnh ra lệnh cho Thần Chết đến trình diện họ. Và lão đã kính cẩn tuân lệnh.
-Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó Quân đoàn IV & Quân khu IV, nói với sĩ quan và binh sĩ thuộc quyền: “Tôi chấp nhận chết. Một người Tướng không giữ được nước thì phải chết vì nước, không thể bỏ dân, bỏ xứ để cầu an cho bản thân, Vĩnh biệt anh em…” Một tiếng súng nổ, 8 giờ tối ngày 30-4-1975.
-Tướng Nguyễn Khoa Nam:“… Chúng tôi là Tướng chỉ huy, nếu chúng tôi không bảo vệ được đất nước thì chúng tôi phải chết theo đất nước”. Một tiếng súng nổ, 6 giờ sáng ngày 1-5-1975.
-Tướng Trần Văn Hai, Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ Binh: “… Chúng ta đã làm tất cả những gì có thể làm được… Chúng ta đã chiến đấu hết sức mình, nhưng trong giờ phút này chúng ta đành phải bó tay… Xin cám ơn và vĩnh biệt các anh em”. Một tiếng súng nổ, sáng ngày 1-5-1975.
-Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh: “… Tôi nghĩ thân làm Tướng là đã hưởng vinh dự và ân huệ của Quốc gia hơn các anh em, nên tôi đã nghĩ đến một lối đi riêng cho tôi”. Và lối đi đó đã mở ra bằng một phát súng, trưa ngày 30-4-1975.
-Tướng Phạm Văn Phú: “… Tôi không thể bỏ ra đi khi đất nước của tôi trong tình trạng như thế này. Tôi sẽ ở lại đây để chết chớ không đời nào chịu đầu hàng Cộng sản”. Tướng Phú đã trả lời tướng Smith ngày 27-4-1975 như vậy khi ông này ngỏ ý mời tướng Phú và gia đình di tản. 32 viên Chloroquines uống vào lúc khoảng 2 giờ trưa ngày 29-4-1975.
Cái danh sách mà Thần Chết được lệnh phải đi đón trong những ngày đó còn dài. Những sĩ quan cấp Tá, cấp Úy, những hạ sĩ quan, binh sĩ, cảnh sát, công chức, cán bộ… Cái danh sách đó đang được lão Thần Chết trân trọng giữ gìn, chờ một ngày để trao lại cho những nhà viết sử,
Từ lâu rồi, lão đã học được một điều, là khi người ta lấy Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm làm trọng, thì người ta sẽ không còn sợ lão. Rồi theo lẽ tự nhiên, lão đâm ra sợ ngược lại những con người kia. Khi họ gọi lão đến, lão cung kính đến trình diện và mẫn cán làm cái nhiệm vụ mà Danh Dự và Trách Nhiệm của những người kia giao cho lão. Lão kính cẩn khắc tên họ vào bia Tuẩn quốc. Như vậy thì xét ra cái lão Thần Chết này cũng không đáng sợ và đáng ghét cho lắm. Lão là người đôi khi cũng biết điều. Lão hay dọa dẫm người ta. Nhưng nếu gặp người, gặp lúc lão cũng biết cách cư xử. Lão cũng làm được nhiều việc đáng làm. Lão rất rạch ròi phân minh. Lão đã kính cẩn khắc những cái tên Trần Bình Trọng, Nguyễn Thái Học… vào lịch sử. Lão đã đặt tên ai vào chỗ nào là không bao giờ sai chạy. Đâu ra đó. Không bao giờ lão lầm lẫn để cái tên Nguyễn Hữu Hạnh lẫn lộn với những cái tên Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ… Không bao giờ! Bao nhiêu tiền bạc, bao nhiêu sách vở, tài liệu ngụy tạo dấu diếm đều không qua được mắt lão. Không bao giờ!
Trần Bình Trọng, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân… cùng những con người khác nữa; đứng trước cổng lịch sử, họ dõng dạc lên tiếng gọi lão. Lão đã kính cẩn mở cái cổng ấy ra, CỔNG CHÁNH, và kính cẩn, lão rước họ vào!
“Đây là điều nhắc nhỡ ta rằng – Không thể bịt miệng một dân tộc
Mà người ta không thể thuyết phục – Bằng lưỡi kiếm của đao phủ”
Mà người ta không thể thuyết phục – Bằng lưỡi kiếm của đao phủ”
Nói theo cách nói của nhà thơ Luis Aragon:
Những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam – những Thái Thú tân thời của Trung Cộng – KHÔNG THỂ BỊT MIỆNG DÂN TỘC VIỆT NAM, một dân tộc có NHỮNG NGƯỜI KHÔNG SỢ CHẾT VÀ BIẾT CÁCH CHẾT!
NGUYỄN THIẾU NHẪN
This entry was posted in NGUYỄN THIẾU NHẪN. Bookmark the permalink.

Kính viếng hương hồn đại tá Lê Văn Tưng
Còn khí phách nào hơn
Như tướng Trần Bình Trọng
Ở nhà tù Hóc Môn
Rừng Hàm Tân nhớ thương
Tiếng chim đàn thảm thiết
Khóc than hoài cố hương
Việt Bắc trời ba la
Hương hồn người dũng sĩ
Danh tiếng thơm ngàn thu
Nguyền ruả Hồ Chí Minh
Cái xác giòi hôi thối
Quàn tại lăng Ba Đình
Từng con cắn xé ông
Trần truồng giưã bầy sói
Đại tá Lê Văn Tưng…!
chuyển thể thơ Hoàng Trọng Thanh: “Kính Biệt Trương Văn Sương”
Linh hồn còn tha thiết nơi nao
Một thời chống giặc cộng nô
Bạo tàn ngạ quỷ ma Hồ nhiễu nhương
Dù gông cùm đày đoạ khảo tra
Hiên ngang khí phách anh hào
Hỡi người chiến hữu cộng hoà miền Nam
Bầy quái nhân hung hãn trả thù
Mặt trời chính nghiã quốc gia
Tấm gương sáng chói sơn hà vinh quang
Cổ kim chinh chiến kỷ nhân hồi
Nêu danh quân sử sáng ngời
Quê hương tổ quốc giống nòi tồn vong
Gieo vào lòng nhân thế trước sau
Thủy chung máu đỏ một màu
Bắc Nam một giải bốn muà nở hoa
Giết hại anh thảm thiết non sông
Triệu người lệ nhỏ lưng tròng
Anh hùng tử sĩ vấn vương thế trần
Nắm chặt tay tiêu diệt bạo tàn
Tay sai đại Hán dâm loàn
Độc tài bá trị giang san máu trào
Bao Đặng Dung phục hận rưả thù
Đôi dòng tâm sự nghẹn ngào
Miên man tôi viết mà trào ra thơ
Bởi hôm nay tủi hận điêu linh
Lòng tôi ưá máu bất bình
Hồn thiêng trợ giúp dân mình hỡi anh
Quyền tự do đến tận mọi người
Bình an hạnh phúc khắp nơi
Quê hương gấm vóc ngàn đời cuả ta!
Kính viếng hương hồn tướng Phạm Văn Phú
Tận trung báo quốc dạt dào biển khơi
Thiên tư vời vợi sáng ngời
Cao Nguyên máu lưả sục sôi tháng ngày
Cộng quân ào ạt vu hồi
Ngán sao tổng thống tính sai thế cờ
Rút quân khỏi Pleiku
Xót xa tướng Phú mái đầu phong sương
Bàn giao lãnh thổ cuối cùng
Quyết tâm tự sát máu hồng chảy xuôi…
Bừng bừng sấm sét sao nguôi
Cấp trên đổ lỗi hận trời đá tan
Uống liều độc dược từ trần
Mê man bất tỉnh điêu tàn tháng tư
Thều thào hỏi vợ ra sao?
Miền Nam bức tử cộng hoà còn đâu
Hồn đà theo gió chiêm bao
Nhắm nghiền đôi mắt ngàn thu tủi sầu…!
kính bái hương hồn Đại Tá Đặng Phương Thành
Nhất tướng công thành vạn cốt khô
Sáng danh quân sử cộng hoà
Ngàn năm vằng vặc chói loà thiên binh
Lập chiến công gìn giữ nước non
Cộng quân táng đởm kinh hồn
Huân chương Bảo Quốc ghi ơn anh hùng
Nước lòng dân quân lực miền Nam
Cớ sao chúng nỡ nhẫn tâm
Nga Tàu bánh vẽ tối tăm mịt mù
Tổng thống Minh bạc nhược đầu hàng
Cửu Long cuồn cuộn điên cuồng
Oán hờn ngùn ngụt tang thương não nùng
Chúng biết người chiến trận năm xưa
Hiên ngang tỏ mặt anh hào
Đòn thù tới tấp thịt da máu trào
Suốt ngày đêm quản giáo hỏi tra
Một hôm bỗng biến đi đâu
Chó săn lùng sục rừng sâu ngút ngàn
Bọn đặc công thảm thiết kêu la
Bày trò tự tử không tha
Xác chôn vội vã vi vu gió sầu
Đặng Phương Thành tức tưởi ra đi
Rừng phong heo hút lẻ loi
Hôm qua đào mộ tiễn người bạn thân.
Kính viếng trung tá cảnh sát Nguyễn Văn Long
Nghẹn ngào xúc động non xanh thảm sầu
Viễn Đông hòn ngọc còn đâu
Sài gòn đổ nát máu trào lệ rơi!
Hiên ngang phát súng giưã đời
Tượng đài chiến sĩ ngậm ngùi ngàn thu
Chiến bào nhuộm đỏ máu đào
Tình yêu dân nước dạt dào biển khơi
Phượng rơi phố xá tả tơi
Tháng tư quốc hận người ơi, não nùng
Linh hồn anh Nguyễn Văn Long
Chứng nhân lịch sử chí công trung thành
Thuỷ quân lục chiến quang vinh
Trái tim nhức nhối Hoàng Thành còn vang
Vẳng nghe tiếng nhạc hào hùng
Trải bao thập kỷ Lạc Hồng hồi sinh
Hay đành cam chịu ô danh
Theo bầy khỉ đỏ Chí minh lạc loài?
Ba Tàu liếm gót tôi đòi
Bán buôn rừng biển giống nòi lầm than
Kià bầy chó sói công an
Hung hăng cắn xé sát nhân bạo tàn
Lương cao bổng lộc tranh ăn
Vênh vang tự đắc sao lon rỡ ràng
Nhớ thương anh Nguyễn Văn Long
Là người cảnh sát trong lòng Miền Nam !
Bốn vùng chiến thuật chưá chan tâm hồn
Thiên thần như sóng nước cồn
Cửu Long cuồn cuộn máu dồn lệ rơi
Đọc trang quân sử bồi hồi
Thương người dũng tướng cuộc đời bi ai
Hy sinh tuẫn tiết cho người
Thiên thu chói lọi ngậm ngùi xót xa
Ba mươi ngày ấy tháng tư
Nưả đêm gà gáy hồn đà thăng thiên
Quyết không sống nhục ươn hèn
Dưới bầy dã thú bon chen dập vùi
Nghiã trang quân đội di hài
Cần Thơ cỏ dại sương rơi sớm chiều
Già Lam tiếng mõ cầu siêu
Xương tro hài cốt tiêu điều hoàng hôn
Trải bao thập kỷ điêu tàn
Việt Nam cộng sản dã man tận cùng
U mê thế giới đại đồng
Oán hờn ngùn ngụt thê lương não nùng
Tôi xin thắp nén hương lòng
Phiêu diêu bốn bể linh thiêng thì về
Nhớ ngày uất hận tràn trề
Hơn ba thập kỷ dầm dề gió mưa!
Kính bái hương hồn Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
Ngẩng cao đầu tổ quốc yêu thương
Nhẫn tâm viên đạn phũ phàng
Tuôn dòng máu đỏ chói chang cờ vàng
Thiếu sinh quân từng lớp vượt qua
Sĩ quan quân lực cộng hoà
Thăng hàm đại tá mới vưà ba tư
Phá vòng vây hợp với tướng Hưng
Anh em tay bắt mặt mừng
Thắm tình huynh đệ nức lòng quân dân
Cả miền Nam tủi nhục lầm than
Dép râu nón cối tro tàn
Tiểu khu Chương Thiện lưả đàn máu chan
Giưã vòng vây biển lưả hận thù
Báo rừng đâu dễ cúi đầu
Kẽm gai chúng trói nát nhừ thịt da
Hồ Chí Minh lão tặc truyền cho
Mác Lê đại hán côn đồ
Thi nhau cắn xé máu trào xương tan
Không luật sư bấn loạn tâm thần
Tội vì chống lại nhân dân
Giết quân giải phóng công an chính quyền.
Kính viếng hương hồn tướng Lê Nguyên Vỹ
Cả hai phó trưởng chứng nhân anh hùng
Cỏ lau An Lộc chiến trường
Thông reo trước gió bẽ bàng hoàng hôn
Mồ hoang đom đóm cô hồn
Xe năm tư tấn nát tan như bùn
Tinh thần quyết tử sóng cồn
Tấn phong chuẩn tướng cộng quân hãi hùng
Tháng tư chiều lạnh quê hương
Cộng hoà bức tử thê lương não nùng
Nghiêm trang dưới lá cờ vàng
Sát thân báo quốc máu hồng chảy xuôi
Ngàn thu lịch sử ngậm ngùi
Tro tàn một nắm sương rơi lệ trào!
Kính viếng hương hồn tướng Nguyễn Văn Hưng
Miền Nam thất thủ lệ rơi máu trào
Hạnh Minh bán đứng cộng hoà
Đầu hàng cộng sản cơ đồ nát tan
Văn Hưng tuẫn tiết tướng quân
Ngàn năm lịch sử chưá chan anh hùng
Sương mờ ảm đạm quê hương
Hai muà mưa nắng thê lương não nùng
Phu nhân Phạm Thị Kim Hoàng
Nuôi con khôn lớn đẹp lòng tướng Hưng
Phiêu diêu mây gió bốn phương
Hồn theo sông núi nhớ thương lại về
Gập ghềnh muôn nẻo sơn khê
Khói hương nghi ngút bạn bè gặp nhau…
Ngậm ngùi quốc hận tháng tư
Giang sơn tủi nhục khổ đau chín chiều!
Kính viếng hương hồn tướng Trần Văn Hai
Gầm vang một thuở anh hào rừng xanh
Liên đoàn biệt động lừng danh
Thiên thần mũ đỏ thất kinh giặc thù
Khe Sanh nổi tiếng quân dù
Xông pha khói lưả mưu đồ nước non
Thuỷ quân lục chiến bền gan
Highway thường gọi tướng quân bạn vàng
Thiên tư quân sự rỡ ràng
Mậu thân sáu tám cuồng phong kinh thành
Trọn đời liêm khiết công minh
Thăng trầm lên xuống sáng danh cá kình
Tấn phong tư lệnh bộ binh
Muộn màng chiến cuộc tổng Minh đầu hàng
Đồng Tâm căn cứ cuối cùng
Bàn giao sư trưởng võ vàng cộng quân
Bất ngờ súng bắn què chân
Để cho biết mặt thiên thần mũ nâu
Nưả đêm từ giã ta bà
Một liều độc dược la đà trời mây
Cúi đầu kính viếng tướng Hai
Hương lòng một nắm trần ai tủi sầu!
Ra đi gửi lại mẹ già
Bảy mươi ngàn bạc cộng hoà miền Nam!
chuyển thể thơ Lâm Thu Hà ” Trần Bình Trọng Tử Trận Trên Sông Thiên Mạc ”
Dòng họ Lê tuẫn tiết Trần gia
Sa trường chinh chiến cùng cha
Cương thường chính trực nhà Vua tin dùng
Sánh duyên cùng Thụy Bảo công nương
Truy phong là Bảo Nghiã Vương
Trên dòng Thiên Mạc chiến công oai hùng
Phá vòng vây cứu được hoàng gia
Sắt son được trở lại nhà
Vợ hiền con đẹp trăng ngà nỉ non
Chúng trói Ngài diện kiến Thoát Hoan
Trọng tài mến phục hỏi han
Vỗ về dụ dỗ rượu tràn đón đưa
Một cước quyền Nguyên Đát ngã lăn
Bàng hoàng tướng giặc thở than
Chiến bào đỏ thắm toàn thân nhuộm hồng
Thản nhiên nhìn bầy thú dở trò
Bạc vàng châu ngọc gái tơ
Rút gươm kề cổ máu trào quản chi
Đời lẫy lừng trận mạc quân binh
Miễn sao tiếng để lưu danh
Dẫu cho thất bại sử xanh cảm sầu
Nước non này sống núi cuả ta
Như Lý Thái Tổ năm xưa
Trăm năm bền vững thái hoà dân an
Bọn xâm lăng bành trướng bắc phương
Bao phen thất đảm kinh hoàng
Xác phơi đồng nội Bạch Đằng cốt khô
Cũng không sao khuất phục tướng quân
Đập bàn ly rượu đổ tràn
Thoát Hoan quát chém bần thần cỏ cây
Một thoáng qua bảng lảng mây trời
Trước sau ngắn ngủi than ôi
Rượu đào đưa tiễn một thời bên vua
Nắm tay thề vững chí nam nhi
Quyết tâm bảo vệ giống nòi
Giang sơn lãnh thổ ngàn đời cuả ta
Nhớ cha già con trẻ chờ mong
Đói nghèo ập xuống quê hương
Cưả nhà tan nát đồng hoang cỏ dày
Cảnh chia ly đôi ngả âm dương
Má hồng bi lụy dở dang
Tha phương cầu thực bốn phương đất trời
Trống canh ba giờ ngọ sắp qua
Giặc Nguyên chưa dám hạ đao
Ngài khinh rẻ mắng mặt trơ ươn hèn
Doạ đàn bà cưỡng bách trẻ con
Còn người còn nước còn non
Gây bao tội ác oán hờn dân Nam
Bốc hơi men giờ ngọ dần qua
Lưỡi đao hạ xuống rơi đầu
Trợn trừng đôi mắt máu nhoà chân ông
Còn ngày nay Phú Trọng tôi đòi
Buôn dân bán nước hại nòi
Bí thư cộng sản lạc loài đười ươi.
Kính viếng hương hồn tướng Nguyễn Văn Hưng
Miền Nam thất thủ lệ rơi máu trào
Hạnh Minh bán đứng cộng hoà
Đầu hàng cộng sản cơ đồ nát tan
Văn Hưng tuẫn tiết tướng quân
Ngàn năm lịch sử chưá chan anh hùng
Sương mờ ảm đạm quê hương
Hai muà mưa nắng thê lương não nùng
Phu nhân Phạm Thị Kim Hoàng
Nuôi con khôn lớn đẹp lòng tướng Hưng
Phiêu diêu mây gió bốn phương
Hồn theo sông núi nhớ thương lại về
Gập ghềnh muôn nẻo sơn khê
Khói hương nghi ngút bạn bè gặp nhau…
Ngậm ngùi quốc hận tháng tư
Giang sơn tủi nhục khổ đau âu sầu
Chiều tà hiu hắt Cần Thơ
Hơn ba thập kỷ xót xa nghẹn ngào
Ôm chai sưã nhỏ ngây thơ
Bé Hà đâu biết hồn đà lià thân
Tướng quân người đã qui thần
Núi sông chết lặng trăng ngàn gió than
Nghiã Phương chiến hữu xa gần
Lập trang quân sử chính nhân hào hùng!